Ngày đăng 30/07/2022 | 10:55 AM

Đề xuất một số giải pháp nâng cao ứng dụng công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất Ngành Xây dựng

Lượt xem: 59  |  Chia sẻ: 0
(AMC) Đề xuất một số giải pháp nâng cao ứng dụng công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất Ngành Xây dựng

 

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT NGÀNH XÂY DỰNG

 

TS. Trần Hữu Hà*

       *Giám đốc Học viện CBQL xây dựng và đô thị

 

Hiện nay, trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, giải pháp nâng cao ứng dụng công nghệ phải được xác định là công tác mũi nhọn, là lực đẩy cho hoạt động, góp phần hết sức quan trọng vào thành tựu và sự phát triển của hệ thống sản xuất, tiêu thụ của ngành Xây dựng nước ta. Trong giai đoạn tiếp theo, để tiếp tục tăng cường công tác ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong các doanh nghiệp sản xuất ngành Xây dựng, các giải pháp công nghệ cần xác định được phương hướng, xây dựng những giải pháp có tính khả thi nhằm tạo bước ngoặt mang tính đột phá. Trong điều kiện Đảng và Nhà nước xác định CNTT là công cụ hữu hiệu để thực hiện đột phá chiến lược đối với phát triển đất nước, là chìa khoá mở ra cánh cửa để dân tộc ta bước vào giai đoạn mới. Đặc biệt, cần vận dụng triệt để những định hướng, tư tưởng, giải pháp lớn trong Nghị quyết 36/NQ-TW  đã ban hành ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị. Nghị quyết mang tầm chiến lược, đề ra những định hướng lớn cho sự phát triển ngành CNTT, được coi là “cơ hội vàng” để CNTT nước ta phát triển đến 2024-2034.

 SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Theo quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và xu hướng hoạt động ứng dụng CNTT vào các hoạt động là cần thiết, nhằm nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả hoạt động trong điều kiện mới, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phù hợp với yêu cầu phát triển của ngành Xây dựng trong nước và đồng thời chủ động hội nhập khu vực và thế giới.

 Chủ trương, chính sách của Chính phủ về ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất

Trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của CNTT và hiệu quả cao của việc ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực đời sống xã hội, cùng với những đòi hỏi, yêu cầu mới; Đảng, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều các văn bản chỉ đạo mang tính định hướng quan trọng.

Nhiều dự án mới đều hướng tập trung xây dựng nguồn lực thông tin số hoá, tạo lập các bộ sưu tập số

Nghị quyết số 36/NQ-TW ban hành ngày 01/7/ 2014 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế”, đây là văn bản hết sức quan trọng, mang tầm chiến lược, đề ra những định hướng lớn cho sự phát triển ngành CNTT nước ta trong thời kỳ mới, một trong những quan điểm chỉ đạo quan trọng là “Ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin là một yếu tố quan trọng trong bảo đảm thực hiện thành công ba đột phá chiến lược, cần được chú trọng, ưu tiên trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”. Cụ thể hoá định hướng và nội dung cho việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT, ngày 15/4/2015, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 26/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 36/NQ-TW ngày 01/7/2015 của Bộ Chính trị, theo đó cũng xác định rõ mục tiêu để công nghệ thông tin thực sự trở thành “phương thức phát triển mới, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả lao động…”.

Song song với việc thực hiện các văn bản chỉ đạo trên, các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức cần tiếp tục triển khai, hiện thực hoá nội dung các văn bản chỉ đạo khác đã được ban hành các năm trước đây. Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ban hành ngày 29/06/2006. Quyết định số 56/2007/QĐ-TTg về Phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp nội dung số Việt Nam đến năm 2010, ban hành ngày 3/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ, Ưu tiên kinh phí để các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp số hoá kho nội dung thông tin của mình và cung cấp lên mạng. Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về “Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước”, ban hành ngày 10/4/2007 của Thủ tướng Chính phủ, nội dung cơ bản của Nghị định quy định các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước có trách nhiệm xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của cơ quan và giữa các cơ quan, trong giao dịch của cơ quan nhà nước với tổ chức và cá nhân. Có thể nói đây là những định hướng quan trọng cho công tác ứng dụng CNTT vào hoạt động của Ngành.

Xu hướng hoạt động mới của các doanh nghiệp sản xuất ngành Xây dựng trong cách mạng công nghiệp 4.0.

- Xu hướng về Truy cập thông tin: Khẳng định với công nghệ mới sẽ vừa mở rộng và đồng thời cũng hạn chế tiếp cận thông tin, theo đó thông tin số ngày càng mở rộng, đồng thời mô hình kinh doanh trực tuyến mới sẽ ảnh hưởng đến việc chia sẻ hoặc truy cập thông tin của người sử dụng trong tương lai, để mọi người có thể truy cập thông tin trực tuyến dễ dàng trong điều kiện số lượng và sự đa dạng của các thông tin được sản xuất.

- Xu hướng về Giáo dục trực tuyến: Giáo dục trực tuyến sẽ dân chủ hoá và phá vỡ việc học tập toàn cầu, theo đó vị trí của giáo dục trực tuyến phải có tác động sâu sắc về việc làm, văn hoá, giao tiếp và các lớp học trên toàn thế giới. Việc gia tăng nhanh chóng của các tài nguyên giáo dục trực tuyến sẽ làm cơ hội học tập phong phú hơn, rẻ hơn và dễ tiếp cận hơn. Sự phong phú của tài nguyên học tập trực tuyến, cùng với sự gia tăng của truy cập mở ảnh hưởng đến bản chất và các dịch vụ cung cấp bởi thư viện.


Quản lý trực tuyến

- Xu hướng về Bảo vệ dữ liệu và sự riêng tư: Khẳng định các ranh giới về sự riêng tư và bảo vệ dữ liệu sẽ được xác định lại bởi hiện nay các công cụ thu thập thông tin cá nhân rất dễ dàng, có thể gây hại đối với sự riêng tư cá nhân và niềm tin vào thế giới trực tuyến.

Xu hướng về Xã hội siêu kết nối: Các xã hội siêu kết nối (Hyper-Connected Societies) sẽ lắng nghe và trao quyền cho tiếng nói mới (New Voices) và các nhóm. Sự hội tụ của công nghệ di động, truy cập trực tuyến và truyền thông toàn cầu đã trao quyền phong trào Internet mới.

- Xu hướng về Công nghệ mới: Theo đó thông tin kinh tế toàn cầu sẽ được biến đổi bằng công nghệ mới, với sự gia tăng của các thiết bị di động siêu kết nối, mạng cảm biến trong các ứng dụng và cơ sở hạ tầng, in ấn 3D, vật liệu xây dựng mới xanh thân thiện môi trường và các công nghệ dịch ngôn ngữ đang biến đổi kinh tế thông tin toàn cầu.

Như vậy, nắm bắt được xu hướng, để có thể xác định được bước đi đúng trong việc ứng dụng CNTT trong hoạt động xây dựng với tầm nhìn chiến lược, dần tiếp cận và hoà nhập với sự phát triển của thế giới.

 CNTT là công cụ hữu hiệu để thực hiện đột phá chiến lược trong phát triển đất nước

Sự thay đổi cách thức quản lý theo hướng trực tuyến, liên kết

 Hệ thống ứng dụng CNTT cần được điều chỉnh, xây dựng lại với một hệ thống có khả năng đáp ứng sự thay đổi về quy trình nghiệp vụ cũng như yêu cầu của người sử dụng một cách linh hoạt.

 Hệ thống CNTT hiện tại cần được tiếp tục duy trì và nâng cấp để đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ, với xu hướng đẩy mạnh cung cấp các dịch vụ trực tuyến, hội tụ, liên kết các nguồn bên trong và bên ngoài hệ thống.

THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Những kết quả đã  đạt được

 CNTT được ứng dụng một cách mạnh mẽ trong tất cả các hoạt động của Ngành. Hạ tầng CNTT được củng cố, có sự quan tâm của lãnh đạo và đã được đầu tư với những dự án  lớn, có chiều sâu. Hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đã ứng dụng CNTT khá mạnh mẽ.

 Các phần mềm chuyên ngành được ứng dụng rộng rãi, góp phần đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động, nâng cao chất lượng hoạt động. Nhiều dự án mới hoặc đang trong giai đoạn chuẩn bị được đầu tư đều hướng tập trung xây dựng nguồn lực thông tin số hoá, tạo lập các bộ sưu tập số. Sản phẩm và dịch vụ đa dạng hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng.

Một số hạn chế và nguyên nhân

 Công tác ứng dụng CNTT chưa đáp ứng kịp tốc độ phát triển của CNTT và truyền thông cũng như sự thay đổi nhanh về yêu cầu của người sử dụng. Mức độ ứng dụng CNTT trong hệ thống không đồng đều. Việc sử dụng quá nhiều phần mềm quản trị trong cùng một hệ thống dẫn đến khó khăn trong công tác hỗ trợ lẫn nhau khi cần thiết. Nhiều phần mềm chưa áp dụng các chuẩn nghiệp vụ dẫn đến tình trạng khó khăn cho việc trao đổi, dùng chung hoặc tích hợp cơ sở dữ liệu.

 Ngân sách thường xuyên dành cho hoạt động CNTT còn thấp, chưa tương xứng với vị trí, vai trò, tác dụng của CNTT. Thiếu nhân lực được đào tạo chuyên ngành CNTT, môi trường làm việc và thu nhập chưa khuyến khích được người có trình độ tốt về CNTT làm việc.

 Trình độ, năng lực của người làm nói chung ở lĩnh vực ứng dụng CNTT còn nhiều hạn chế, chưa được cải thiện nhiều trong 10 năm qua. Công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục.

 Nhiều bất cập về chế độ, chính sách đãi ngộ đối với người làm công tác CNTT cả về thu nhập lẫn cơ hội được đào tạo nâng cao trình độ.

 Tính liên kết trong hoạt động CNTT cùng hệ thống chưa chặt chẽ, dẫn đến hiệu quả thấp, nhiều khi chồng chéo, lãng phí. Việc phối hợp giữa các đơn vị chỉ đạo nghiệp vụ và cơ quan quản lý nhà nước chưa chặt chẽ trong việc định hướng, đánh giá, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm.

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Các nguyên tắc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin

Để ứng dụng CNTT đạt hiệu quả cao, bền vững cần đảm bảo thực hiện các nguyên tắc sau:

Một là: Ứng dụng CNTT phải đảm bảo tính thực tế, khả thi, cần xác định mức độ quan trọng, cấp thiết của nhiệm vụ và khả năng áp dụng vào thực tiễn trong điều kiện cụ thể. Do đó, để thực hiện được nguyên tắc này cần phải có sự khảo sát để nắm bắt được thực trạng ứng dụng CNTT tại đơn vị, bao gồm: Nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị CNTT hiện có (phần cứng, phần mềm...).

Hai là: Ứng dụng CNTT phải đảm bảo tính hệ thống chặt chẽ, có tổ chức trước hết của toàn hệ thống và đặt trong tính hệ thống của bộ máy quản lý nhà nước.

Ba là: Đảm bảo tính đồng bộ, đối với nguyên tắc này, công tác ứng dụng CNTT cần phải được đặt trong các mối liên hệ với các hoạt động khác của đơn vị, cần đảm bảo tính tương hỗ lẫn nhau, bổ trợ cho nhau. Do đó, muốn thực hiện tốt nguyên tắc này thì đồng thời cũng phải thực hiện đồng bộ các biện pháp khác, hoạt động khác.

Bốn là: Ứng dụng CNTT đòi hỏi hệ thống phải chú trọng đầu tư các yêu cầu kỹ thuật về tính an toàn (đối với hệ thống thiết bị, hệ thống mạng, phần mềm, dữ liệu…), đảm bảo thiết kế và triển khai hệ thống an ninh, an toàn, sao lưu, dự phòng… Đồng thời có khả năng phát hiện, xử lý nhanh chóng các sự cố có thể xảy ra.

Năm là: Ứng dụng CNTT cần đảm bảo khả năng mở rộng, theo đó tất cả các thành phần trong hệ thống kiến trúc CNTT phải cho phép dễ dàng mở rộng, nâng cấp trong tương lai và đảm bảo tối ưu hoá năng lực của hệ thống khi có yêu cầu để đáp ứng nhu cầu phát triển liên tục của người sử dụng.

Sáu là: Ứng dụng CNTT phải đảm bảo tính hiệu quả, nhìn chung bất kỳ công việc hay hoạt động nào cũng phải tính đến hiệu quả, đảm bảo thực hiện công việc với thời gian, chất lượng cao nhất, đồng thời không lãng phí thời gian, vật lực, tài lực...

 

Ứng dụng CNTT phải đảm bảo tính hiệu quả

Các điều kiện để đảm bảo ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả

Một là: Lập kế hoạch cụ thể, cần xây dựng được các kế hoạch chi tiết, bao gồm các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

Hai là: Chuẩn hoá nghiệp vụ, áp dụng và tuân thủ đúng các tiêu chuẩn nghiệp vụ về công nghệ thông tin và nghiệp vụ thư viện.

Ba là: Đảm bảo xây dựng được nguồn nhân lực chất lượng có thể xây dựng, phát triển và quản lý, duy trì vận hành hệ thống CNTT, chú trọng công tác đào tạo, đào tạo lại nhân lực.

Bốn là: Đảm bảo nguồn tài chính ổn định cho sự phát triển của CNTT, không chỉ ở giai đoạn phát triển ban đầu mà cần tính toán và đảm bảo các giai đoạn nâng cấp, mở rộng, duy trì.

Các giải pháp cụ thể

Một là: Đổi mới và nâng cao nhận thức của lãnh đạo các cấp, về tầm quan trọng của CNTT trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, cần coi ứng dụng CNTT là nội dung bắt buộc trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển cũng như trong từng đề án, dự án đầu tư.

Hai là: Hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường quản lý nhà nước về ứng dụng CNTT nói chung và của doanh nghiệp sản xuất ngành Xây dựng nói riêng.

Nhằm đảm bảo hoạt động ứng dụng CNTT của doanh nghiệp sản xuất ngành Xây dựng một cách toàn diện, hoạt động quản lý nhà nước về ứng dụng CNTT cần chú trọng rà soát, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách về tài chính và đầu tư, chế độ đãi ngộ đối với nhân lực CNTT… phù hợp với điều kiện phát triển của Ngành, đồng thời xây dựng, ban hành các chính sách mới nhằm tạo đà cho việc ứng dụng CNTT phát triển.

Ba là: Đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động ứng dụng CNTT.

Tiếp tục xây dựng, củng cố và hoàn thiện hạ tầng CNTT, đảm bảo xây dựng và tổ chức hệ thống CNTT một cách thống nhất, đồng bộ cả về nghiệp vụ và giải pháp kỹ thuật theo hướng sẵn sàng tích hợp dữ liệu, khả năng xử lý các sự cố trong trường hợp cần thiết. Hướng đến xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung.

Cần xây dựng được chiến lược, kế hoạch đẩy mạnh các giải pháp ứng dụng CNTT, chú trọng công tác lập kế hoạch để bám sát các mục tiêu của ngành, đơn vị, đồng thời điều chỉnh nhanh chóng, kịp thời các phát sinh trong quá trình triển khai hệ thống CNTT.

Xây dựng các dịch vụ khai thác thông tin và hỗ trợ người sử dụng một cách phù hợp, tiến hành triển khai các dịch vụ trao đổi thông tin trong và ngoài nước.

Bốn là: Tăng cường ngân sách đầu tư cho CNTT một cách dài hạn.

Năm là: Có chế độ ưu đãi đối với nhân lực CNTT.

Sáu là: Tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước trong việc củng cố hạ tầng CNTT, nguồn lực thông tin cũng như công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực.

Hiệu quả ứng dụng CNTT

 

Mô hình quản lý trực tuyến

Ứng dụng phần mềm quản lý sản xuất và bán hàng:

Quản lý trực tuyến

Hệ thống sẽ quản lý trực tuyến từ tất cả các khâu, biết được tình hình hoạt động, doanh thu, lợi nhuận từ xa và có thể truy cập từ mọi thiết bị.

Quản lý Sản xuất và Bán hàng

Quy trình sản xuất và bán hàng trên hệ thống kết nối một cách chặt chẽ, từ quản lý kho nguyên liệu đến kho thành phẩm đều thể hiện logic trong phần mềm.

Thống kê trực quan

Bạn có thể thống kê được doanh thu lợi nhuận của mình theo ngày, tháng năm. Ngoài ra, còn có thể biết chính xác số lượng nguyên vật liệu và sản phẩm tồn kho.

Ví dụ: Một công ty cung cấp vật liệu xây dựng thông thường có nhiều khâu khác nhau, từ công đoạn mua nguyên liệu, lấy nguyên liệu để sản xuất ra thành phẩm, quản lý tồn kho và định mức nguyên liệu, tồn kho thành phẩm, phân biệt sản phẩm tự sản xuất hoặc mua trực tiếp... tất cả đều cần một phần mềm hoàn hảo để quản lý tất cả các công việc này. Nếu như quản lý thủ công hay bằng excel, gần như một điều chắc chắn là sẽ sai sót và nhầm lẫn số liệu, từ đó dẫn đến nguồn tài chính của công ty bị thất thoát khá nhiều.

Như vậy, ứng dụng CNTT là giải pháp tối ưu và hiệu quả cho các doanh nghiệp sản xuất ngành Xây dựng. Thời gian tới, Trung ương, Bộ và doanh nghiệp ngành Xây dựng cần chú trọng những nội dung như:

Đối với Quốc hội, Chính phủ

 Xác định đúng vị trí, vai trò của các doanh nghiệp sản xuất ngành Xây dựng đối với xã hội, đồng thời đưa nhiều nội dung liên quan đến ứng dụng CNTT vào Dự thảo Luật Xây dựng sửa đổi, làm cơ sở pháp lý cho việc xây dựng và phát triển, nhanh chóng hoàn thiện, ban hành Luật và các Nghị định hướng dẫn thi hành.

 Điều chỉnh một số nội dung trong các văn bản pháp quy liên quan: Luật Đầu tư công, Luật Quy hoạch…

 Đối với Bộ

 Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến các doanh nghiệp sản xuất ngành Xây dựng nói chung và công tác ứng dụng CNTT nói riêng.

 Tiếp tục tăng cường đầu tư ngân sách để các doanh nghiệp sản xuất ngành Xây dựng hiện thực hoá các chỉ đạo của Chính phủ, khắc phục những tồn tại, hạn chế, tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong việc ứng dụng CNTT.

 Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát định kỳ, có chế độ khen thưởng kịp thời các đơn vị có công tác ứng dụng CNTT hiệu quả, là điển hình tiên tiến.

Đối với các doanh nghiệp sản xuất ngành Xây dựng

 Cần lập kế hoạch và xây dựng chương trình cụ thể theo từng giai đoạn trong việc ứng dụng CNTT, mọi hoạt động ứng dụng CNTT luôn bám sát chủ trương của Đảng, phương hướng chỉ đạo của Chính phủ, quy hoạch của Ngành và mục tiêu chung của ngành Xây dựng trong nước và quốc tế.

 Cần tích cực đóng góp lý luận và thực tiễn, đồng thời đề xuất các ý kiến gửi các cơ quan quản lý nhà nước nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến ứng dụng.

 Tiếp tục xây dựng, củng cố và hoàn thiện hạ tầng CNTT, hoàn thiện, nâng cấp các phần mềm ứng dụng, nhất là phần mềm quản lý, đẩy mạnh áp dụng phần mềm quản lý các bộ sưu tập số, ưu tiên nghiên cứu áp dụng phần mềm mã nguồn mở. Tăng cường quảng bá, chia sẻ các phần mềm tiện ích, công cụ hiệu quả do ngành Xây dựng phát triển. Tăng cường khai thác, tích hợp, chia sẻ dữ liệu.

 Tiếp tục thống nhất và chuẩn hoá các chuẩn nghiệp vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích hợp, chia sẻ dữ liệu trong và ngoài nước.

 Nhanh chóng cải thiện chất lượng nhân lực CNTT, có chính sách xây dựng đội ngũ kế cận, đồng thời xây dựng các cơ chế, chính sách đãi ngộ hợp lý cả về thu nhập và các điều kiện học tập nâng cao trình độ, tạo môi trường làm việc thuận lợi để người làm công tác CNTT có thể phát huy năng lực, sở trường và gắn bó lâu dài.

Tài liệu tham khảo:

1. Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ban hành ngày 29/06/2006.

2. Nghị quyết số 36/NQ-TW ban hành ngày 01/7/ 2014 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.

3. Tạp chí Kinh tế Xây dựng, Số 4/2018

 

 

 

Tạp chí xây dựng và đô thị
Lượt xem: 59  |  Chia sẻ: 0

Tin có liên quan

Loading ...