Ngày đăng 02/08/2022 | 10:04 AM

Nâng cao vai trò và huy động nguồn lực tài chính đô thị hướng tới phát triển bền vững

Lượt xem: 53  |  Chia sẻ: 0
(AMC) Nâng cao vai trò và huy động nguồn lực tài chính đô thị hướng tới phát triển bền vững

NÂNG CAO VAI TRÒ VÀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ĐÔ THỊ HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

 

Lê Hảo

Những năm gần đây, công cuộc đô thị hóa tại Việt Nam được đẩy mạnh. Tốc độ tăng tỷ lệ đô thị hóa bình quân giai đoạn 2010 – 2020 là 27%/năm. Tỷ lệ đô thị hóa xác định theo địa bàn có chức năng đô thị đã tăng từ 30,5% năm 2010 lên gần 40% vào năm 2020. Không gian đô thị được mở rộng, số lượng đô thị tăng nhanh và được phân bổ tương đối đồng đều trong cả nước.

Quá trình phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam có thể nói vẫn đang trong giai đoạn đầu nhưng cùng với tốc độ đô thị hóa rất nhanh chóng hiện nay, vấn đề này trở thành yêu cầu cấp bách. Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển, nguồn lực đa dạng và phong phú, Việt Nam cần thiết phải có chính sách đúng đắn và kịp thời để việc xây dựng và phát triển đô thị được bền vững, đảm bảo hài hòa lợi ích kinh tế, văn hóa xã hội, môi trường sinh thái. Một yếu tố quan trọng có thể kể đến là nâng cao vai trò tài chính đô thị hướng tới phát triển đô thị bền vững.

Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa của ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường

MỐI LIÊN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ TÀI CHÍNH VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

1.    Một số chủ trương hướng tới phát triển bền vững

Phát triển bền vững (PTBV) là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa của ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường. Xuất phát từ vai trò của PTBV, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự PTBV tại Quyết định 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017. Trong đó, nêu rõ quan điểm PTBV, 17 mục tiêu PTBV của Việt Nam đến 2030 với 115 mục tiêu cụ thể, tương ứng với các mục tiêu PTBV toàn cầu. Kế hoạch hành động thể hiện nỗ lực và cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc thực hiện các mục tiêu PTBV.

Tuy nhiên, Báo cáo quốc gia năm 2020 về tiến độ 5 năm thực hiện các mục tiêu PTBV cho thấy, dự báo đến 2030 Việt Nam sẽ đạt được 5/17 mục tiêu PTBV nhưng có tới 10 mục tiêu PTBV sẽ gặp khó khăn, thách thức để hoàn thành, một trong những nguyên nhân có ảnh hưởng tới việc thực hiện các mục tiêu về PTBV là phải có nguồn lực tài chính cho PTBV. Nguồn lực tài chính được hiểu là lượng vốn dưới dạng tiền tệ được huy động để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của đất nước.

Đối với Việt Nam trong thời gian qua, Đảng đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của nguồn lực tài chính cho PTBV, huy động hiệu quả các nguồn lực tài chính là một chủ trương xuyên suốt của Đảng ngay từ giai đoạn đầu của quá trình “Đổi mới”. Đặc biệt, Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 đã nhấn mạnh việc huy động hiệu quả mọi nguồn lực cho PTBV, trong đó đối với nguồn lực trong nước, đặc biệt là nguồn lực tài chính công đòi hỏi hoàn thiện chính sách và hệ thống thuế, bảo đảm tỉ lệ tích luỹ hợp lý cho đầu tư phát triển. Tiếp đó, Bộ Chính trị cũng ban hành Nghị quyết số 07-NQ/ TW ngày 18/11/2016 về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững.

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 51/NQ-CP ngày 19/6/2017 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện các Nghị quyết số 07-NQ/TW của Bộ Chính trị. Ngoài ra, tại Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự PTBV cũng đã đề ra các giải pháp về tài chính để thực hiện các mục tiêu PTBV như: tăng cường nguồn lực tài chính công thông qua việc nâng cao hiệu quả hệ thống chính sách thu; tiết kiệm chi tiêu công; đổi mới quản lý tài chính công theo hướng công khai, minh bạch; huy động các nguồn lực xã hội cho thực hiện các mục tiêu PTBV...

2.    Mối liên hệ giữa Kinh tế và Tài chính với phát triển bền vững

Để tạo điều kiện cho đô thị có sự phát triển mạnh mẽ, thể chế, tài chính, chính sách về đô thị ngày càng hoàn thiện hơn, đồng thời mô hình chính quyền đô thị đặc thù được triển khai thí điểm tại một số đô thị lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Môi trường đầu tư, kinh doanh tại các đô thị ngày càng được cải thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp khu vực đô thị.Kinh tế khu vực đô thị tăng trưởng cao, đóng góp tỷ trọng ngày càng lớn vào kinh tế chung của địa phương, của vùng và cả nước.

Có thể thấy, sự phát triển kinh tế đô thị đã góp phần quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả nước theo hướng giảm dần tỷ trọng nông lâm thủy sản và tăng tỷ trọng đóng góp của công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Nguồn thu ngân sách của chính quyền đô thị tăng mạnh, đóng góp đáng kể vào hoạt động đầu tư phát triển đô thị và vào nguồn ngân sách của cả nước, trong đó nguồn thu từ đất tăng nhanh. Số lượng các tỉnh, thành phố tự chủ được ngân sách và có điều tiết về ngân sách trung ương cũng ngày càng tăng lên, giai đoạn 2007 - 2010 có 11 địa phương, 2011 – 2015 có 13 địa phương, 2016 - 2020 có 16 địa phương. Cho đến nay, có tới 70-80% hoạt động kinh tế được tạo ra ở các thành phố. Như vậy, nguồn thu tài chính của Việt Nam chủ yếu đến từ các đô thị góp phần cho sự PTBV.

Nguồn lực tài chính có vai trò to lớn hướng tới mục tiêu phát triển bền vững tại Việt Nam

NÂNG CAO VAI TRÒ, HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH ĐÔ THỊ HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

1. Vai trò của chính quyền đô thị trong việc quản lý tài chính đô thị ở các nước trên thế giới và Việt Nam

Trên thế giới, các nước phát triển, nền tài chính đô thị giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế của quốc gia. Chính quyền đô thị có vai trò tự chủ trong việc quản lý riêng biệt nền tài chính đó. Tức là chính quyền thành phố đó ngoài việc tuân theo những quy định pháp luật của nhà nước, họ có quyền đưa ra những quy định riêng của thành phố trong việc tăng nguồn thu cho ngân sách. Vì thế nền tài chính của họ tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh. Ngoài ra, các đô thị đó có chính sách rất thông thoáng trong việc tăng nguồn thu từ các khoản thuế. Họ không đề cao tăng nguồn thu từ thuế mà tăng nguồn thu từ các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế, vệ sinh môi trường, văn hóa, du lịch bằng cách cho tư nhân tham gia. Các nguồn thu đó mang lại cho phát triển đô thị của họ đang sống, tạo ấn tượng tốt cho người dân đô thị và người nước ngoài.

Ở Việt Nam, tài chính đô thị cũng có vai trò quan trọng trong công cuộc CNH- HĐH đất nước. Nguồn tài chính này chiếm 60% tổng thu ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, trong hệ thống tài chính quốc gia chưa hình thành hệ thống tài chính đô thị được quản lý riêng biệt. Tài chính đô thị là bộ phận quan trọng của hệ thống tài chính quốc gia. Nền tài chính của các thành phố rất nhỏ so với nhu cầu của sự phát triển, nhất là phát triển cơ sở hạ tầng. Những vấn đề đặt ra đối với hệ thống tài chính đô thị Việt Nam đó là:

• Xác định rõ hệ thống, tầm quan trọng của từng khâu trong hệ thống, cơ chế hoạt động, những yếu kém trong cơ chế, nguyên nhân, cách khắc phục.

• Quản lý cái gì? Quản lý nguồn thu, chi như thế nào?

• Quản lý như thế nào? Thu đủ, chi đúng, chi có hiệu quả, chống tham nhũng.

• Ai quản lý? Vấn đề cán bộ ra sao?

Tài chính đô thị thuộc phạm trù kinh tế nhưng lại được tổ chức quản lý kiểu hành chính làm mất năng động của các cấp quản lý đô thị, làm chậm tốc độ đô thị hoá. Cơ chế cấp phát vốn và kinh phí còn mang nặng tính bao cấp. Quá coi trọng việc chế độ cấp phát vốn Nhà nước, xem nhẹ khả năng tự hoạt động và cung cấp các dịch vụ đô thị. Một nguyên tắc cơ bản trong hạch toán kinh tế là phải thu hồi vốn bỏ ra để hoạt động thì các nhà quản lý lại bỏ qua, để rồi đến tình trạng thu tiền thuê nhà không đủ sửa chữa, thu tiền nước sinh hoạt thấp hơn giá thành, cuối cùng là thiếu nước, thiếu nhà, thiếu trường học…

Các nguồn tài chính khác để xây dựng đô thị chưa có biện pháp khai thác triệt để. Nguồn tài chính của các khu vực dân cư, của khu vực nước ngoài gần như bị thả nổi. Nhiều gia đình có tiền muốn xây nhà nhưng không được thực hiện được. Quản lý Nhà nước ở đô thị bị chia ra thành nhiều ngành dọc cản trở quá trình kiểm tra, giám sát, thanh tra tài chính. Giữa các cấp các ngành chưa phối hợp chặt chẽ dẫn đến có những quyết định chồng chéo nhau.

Ngoài các thành phố Trung ương như thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà nẵng, Cần Thơ có những nguồn tài chính tương đối vững mạnh. Còn các đô thị loại II, III, IV,V ngân sách nhỏ, không tự chủ được nguồn tài chính mà chủ yếu vẫn là các nguồn tài chính từ ngân sách Trung ương cấp. Là nước XHCN nên chúng ta phát triển kinh tế gắn liền với công bằng xã hội. Tức là chúng ta phát triển hài hoà các yếu tố với nhau. Nâng cao vai trò và huy động được nguồn lực tài chính là cần thiết hướng tới PTBV. Chú trọng đến việc xây dựng và nuôi dưỡng các nguồn thu. Như vậy, chính quyền đô thị mới thể hiện được vai trò rất quan trọng của mình trong quá trình hướng đến PTBV tại Việt Nam.

Vai trò của chính quyền đô thị trong việc quản lý tài chính đô thị là rất quan trọng

2. Nâng cao vai trò, huy động nguồn lực tài chính đô thị hướng đến phát triển bền vững

Hệ thống tài chính của các đô thị là một bộ phận cấu thành của hệ thống tài chính của cả nước. Hiện nay Nhà nước chưa phân định rõ luồng tài chính- ngân sách đô thị và nông thôn do vậy ngân sách và tài chính đô thị chưa có cơ chế chính sách, cơ chế quản lý riêng mà vẫn áp dụng cơ chế chính sách tài chính chung trong cả nước.

Mục tiêu của hoạt động tài chính đô thị là tăng nguồn thu, sử dụng nguồn thu để chi tiêu duy trì các hoạt động thường xuyên và kích thích phát triển kinh tế, dịch vụ, văn hóa giáo dục, nâng cao dân trí, bảo vệ sức khỏe, giảm ô nhiễm môi trường, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, chống chi phí không cần thiết, chống lãng phí… Tuy nhiên tài chính đô thị chỉ hoạt động hiệu quả khi quá trình tạo nguồn thông qua quá trình cấp phát thanh toán và hạch toán kinh tế với bộ máy và những nhà quản lý xây dựng đô thị giỏi, tác nghiệp quản lý phù hợp, hệ thống luật lệ và quy chế xây dựng đô thị theo quy hoạch.

Nguồn lực tài chính công

Giai đoạn 2011-2020, Việt Nam đã thực hiện cải cách mạnh mẽ khung khổ pháp luật về tài chính công để khơi thông nguồn lực cho phát triển KT-XH bền vững. Hệ thống các luật về thuế, phí và lệ phí liên tục được rà soát, hoàn thiện và thực hiện theo lộ trình đề ra, đảm bảo minh bạch, đơn giản, phù hợp với các cam kết về hội nhập quốc tế, góp phần tạo môi trường đầu tư ổn định, hấp dẫn, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đồng thời góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Việc sửa đổi các chính sách thu còn góp phần xác định lại phạm vi thu ngân sách; mở rộng diện thu, cơ sở thu; điều tiết hợp lý hơn thu nhập; điều tiết hành vi theo hướng khuyến khích sử dụng tiết kiệm hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường (BVMT). Đặc biệt, Luật phí, lệ phí được ban hành đã chuyển mạnh nhiều loại phí sang quản lý theo cơ chế giá, thúc đẩy xã hội hóa, khuyến khích huy động nguồn lực hiệu quả hơn.

Hệ thống chính sách thu NSNN ngày càng hoàn thiện cùng với việc nâng cao hiệu quả quản lý thu đã: thúc đẩy sản xuất - kinh doanh phát triển, khuyến khích đầu tư, xuất khẩu, đổi mới công nghệ, từ đó nuôi dưỡng và bồi dưỡng nguồn thu lâu dài phục vụ trở lại cho nhu cầu chi của Nhà nước; (ii) Đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế, các hiệp định mà Việt Nam ký kết; (iii) bảo đảm công bằng xã hội; (iv) Bảo đảm nguồn thu ngày càng ổn định, bền vững hơn, (v) Nâng cao hiệu quả quản lý thu NSNN.

Huy động nguồn lực tài chính tư nhân trong nước

Thời gian qua, nhiều chính sách ưu đãi thuế, tín dụng, đất đai đã được mở rộng để khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu gắn với các mục tiêu PTBV. Vai trò đòn bẩy của chính sách tài chính trong thu hút vốn đầu tư của xã hội để phát triển các ngành, lĩnh vực ưu tiên đã được chú trọng. Các chính sách ưu đãi tài chính phổ biến hiện đang được áp dụng bao gồm ưu đãi về thuế TNDN (thuế suất, kỳ miễn thuế, giảm thuế…), thuế nhập khẩu (miễn, giảm thuế, hoàn thuế…); ưu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và tiền thuê mặt nước; ưu đãi về tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu (trước 2017), hỗ trợ đào tạo lao động.

Những năm gần đây, nền tảng tài chính đang ngày càng được củng cố, đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững. Cơ cấu thị trường tài chính có sự chuyển biến tích cực, giảm bớt sự phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng (TCTD), việc huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế được tăng cường. Tỷ trọng cung ứng vốn cho nền kinh tế từ thị trường vốn tăng. Tính đến cuối năm 2020, quy mô thị trường cổ phiếu đạt 84,1% GDP, đầu tư trở lại nền kinh tế của các DN bảo hiểm năm 2020 ước khoảng 458 nghìn tỷ đồng, tăng 21% so với năm 2019. Các tổ chức trung gian hoạt động trên thị trường đã từng bước mở rộng phạm vi và nâng cao chất lượng hoạt động. Quy mô thị trường vốn phát triển tích cực, góp phần huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển KT-XH...

Chính sách khuyến khích xã hội hóa (XHH) trong một số lĩnh vực dịch vụ công đã góp phần huy động nguồn lực từ các chủ thể trong nền kinh tế cho đầu tư phát triển, thực hiện các mục tiêu về PTBV. Trong đó, để thu hút các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn để đáp ứng các nhu cầu đa dạng của người dân, các chính sách khuyến khích XHH được xây dựng tập trung vào 7 lĩnh vực: Giáo dục - đào tạo, dạy nghề; y tế; văn hoá; thể dục thể thao; môi trường; giám định tư pháp với các chính sách ưu đãi về giao đất, cho thuê đất, thuế, tín dụng... Cùng với đó, các chính sách cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công, chính sách bảo hiểm y tế... đã thúc đẩy mạnh mẽ việc XHH, tăng thu hút nguồn lực cho thực hiện các mục tiêu PTBV.

Tài chính đô thị đã huy động được các nguồn thu và phân bổ đầu tư cho những dự án thiết thực, góp phần vào sự phát triển bền vững đô thị

Huy động các nguồn lực bên ngoài

Thời gian qua, hệ thống chính sách, pháp luật về thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục được đổi mới, hoàn thiện, giúp tạo ra các kênh huy động vốn đa dạng hơn cho nền kinh tế, bao gồm vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp nước ngoài, nguồn vốn ODA, vay thương mại thông qua phát hành trái phiếu quốc tế....

Hiện nay, việc đầu tư của các cá nhân, tổ chức nước ngoài vào Việt Nam được thực hiện theo Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp, không có sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Việt Nam đã ký kết nhiều điều ước quốc tế, trong đó có các điều ước quốc tế về khuyến khích và bảo hộ đầu tư, về tránh đánh thuế trùng. Nguồn vốn FDI đã có tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác của nền kinh tế, khơi dậy các nguồn lực đầu tư trong nước, tạo sức ép cạnh tranh đối với các DN trong nước, thúc đẩy đổi mới và chuyển giao công nghệ.

Kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên WTO, vai trò của nguồn vốn FDI ngày càng quan trọng, đặc biệt là trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, nâng cao chất lượng của lực lượng lao động theo hướng bền vững. Khu vực FDI đã góp phần làm gia tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đóng góp trên 20% GDP, hơn 70% kim ngạch xuất khẩu và đang giải quyết việc làm cho khoảng 4,5 triệu lao động trong nền kinh tế.

Đối với nguồn vốn ODA, tổng vốn cam kết của các nhà tài trợ từ 1993 tới nay đạt khoảng 78,2 tỷ USD. Trung bình giai đoạn 2011-2019, vốn ODA và vốn vay ưu đãi đã đóng góp 6,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, 34,09% vốn đầu tư từ NSNN và chiếm khoảng 2,4% GDP Việt Nam. Phần lớn các khoản vay ODA và vay ưu đãi quy mô lớn có lãi suất rất ưu đãi, thời gian vay và ân hạn dài.

Vốn ODA giải ngân cao tập trung cho dự án đầu tư phát triển hạ tầng đồng bộ, quy mô tương đối lớn, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông, năng lượng và công nghiệp, thông tin liên lạc, phát triển hạ tầng đô thị, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp với xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục và đào tạo. Đây là những lĩnh vực quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu về PTBV mà Việt Nam đã cam kết.

Huy động nguồn lực từ đất đai, tài nguyên

Trong khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài nguyên, các chính sách tài chính từ đất đai như thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, mặt nước; đấu giá quyền sử dụng đất; góp vốn liên doanh bằng giá trị quyền sử dụng đất; sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước; xác định giá trị quyền sử dụng đất để giao vốn, tài sản cho đơn vị sự nghiệp công lập cũng đã được rà soát, sửa đổi cho phù hợp với bối cảnh và tình hình thực tế trong từng giai đoạn, nhờ đó đã khơi thông được các nguồn lực quan trọng cho phát triển KT-XH.

Mức thuế suất thuế tài nguyên cũng được rà soát, sửa đổi đối với một số nhóm tài nguyên, khoáng sản nhằm nâng cao hiệu quả khai thác nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, đồng thời động viên thêm nguồn lực cho NSNN để thực hiện các mục tiêu PTBV.

Phát huy hình thức PPP

Hình thức PPP là một giải pháp đã và đang được áp dụng nhiều ở Việt Nam. Hình thức PPP cung cấp một cơ chế tài chính mà chính quyền đô thị và các doanh nghiệp tư nhân hợp tác với nhau để thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng và cải thiện hiệu quả và chất lượng của các cơ sở và dịch vụ công. “Đối tác công tư” là chuyển giao cho khối tư nhân những dịch vụ mà trước đây vẫn do khối Nhà nước thực hiện hoặc ít nhất là cấp vốn. Khu vực tư nhân cũng phải đầu tư tiền của vào việc cung cấp các dịch vụ công, kèm theo đó là việc đánh giá rủi ro và lợi ích - nhiệm vụ và kỹ năng quản trị của một doanh nghiệp để bảo đảm dự án đầu tư được thành công. Vai trò của nhà đầu tư tư nhân cần phải được ghi nhận là một “đối tác” của Nhà nước với địa vị “bình đẳng” theo bản chất của kinh doanh “lời ăn, lỗ chịu”. Thế mạnh của mỗi bên cần được phát huy trong việc đầu tư và vận hành một dự án, dịch vụ công.

Mô hình PPP được sử dụng khá phổ biến vì nó có một số ưu điểm như: Để mở rộng việc cung cấp dịch vụ công; Tăng cường nguồn lực đầu tư trong khi ngân sách của chính phủ còn hạn chế; Giúp chính phủ tránh được những khoản nợ, giữ mức nợ chính phủ trong giới hạn an toàn; không làm tăng thâm hụt ngân sách; Tăng hiệu quả kinh tế vì mục tiêu lợi nhuận nên các nhà đầu tư tư nhân phải tìm cách để dự án được vận hành hiệu quả hơn; Xã hội và nhà nước hỗ trợ khu vực tư nhân (trong và ngoài nước) thể hiện vai trò tích cực của trong tăng trưởng kinh tế; Tìm phương thức quản lý và đầu tư mới. Thêm vào đó, với việc tham gia của khu vực tư nhân, sự sáng tạo, trách nhiệm giải trình cũng như sự minh bạch có khả năng sẽ được cải thiện.

Như vậy, bằng chức năng hoạt động của mình, tài chính đô thị đã huy động được các nguồn thu và phân bổ đầu tư cho những dự án thiết thực, sử dụng nguồn tài nguyên đô thị hợp lý, để tạo ra của cải, cung cấp sản phẩm dịch vụ tốt góp phần vào sự phát triển bền vững của đô thị. Có thế khẳng định vai trò to lớn của nguốn lực tài chính đô thị trong quá trình phát triển đất nước nói chung và hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững nói riêng.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo quốc gia năm 2020 về tiến độ 5 năm thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững;

2. Bộ Tài chính (2020), Tình hình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Bộ Tài chính;

3. Trương Bá Tuấn, (2019), Huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực cho phát triển bền vững ở Việt Nam;

4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, (2020), Hội thảo về tình hình triển khai thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững.

 

Tạp chí xây dựng và đô thị
Lượt xem: 53  |  Chia sẻ: 0

Tin có liên quan

Loading ...